Nobel y học 2019: Cảm biến oxy trong cơ thể

Động vật cần oxy để chuyển đổi thức ăn thành năng lượng hữu dụng. Tầm quan trọng căn bản của oxy đã được hiểu trong nhiều thế kỷ, nhưng làm thế nào các tế bào thích nghi với sự thay đổi nồng độ oxy từ lâu vẫn chưa được biết đến.

William G. Kaelin Jr., Peter J. Ratcliffe và Gregg L. Semenza đã khám phá ra cách các tế bào có thể cảm nhận và thích ứng với việc thay đổi lượng oxy có sẵn. Họ đã xác định cỗ máy phân tử điều chỉnh hoạt động của gen để đáp ứng với mức độ oxy khác nhau.

Những khám phá tinh tế của những người đoạt giải Nobel năm nay, đã tiết lộ cơ chế cho một trong những quá trình thích nghi thiết yếu nhất của cuộc sống. Họ đã thiết lập cơ sở cho sự hiểu biết của chúng ta về chừng độ oxy ảnh hưởng đến chuyển hóa tế bào và chức năng sinh lý. Những khám phá của họ cũng đã mở đường cho những chiến lược mới đầy hứa hẹn để chống lại bệnh thiếu máu, ung thư và nhiều bệnh khác.

Sự quan yếu của oxy

Oxy, với công thức O 2 , chiếm khoảng 1/5 bầu khí quyển của Trái đất. Oxy rất cấp thiết cho đời sống động vật: nó được sử dụng bởi ty thể có trong hồ hết các tế bào động vật, để chuyển đổi thức ăn thành năng lượng có ích. Otto Warburg , người nhận giải thưởng Nobel về sinh lý học hoặc y khoa năm 1931, tiết lậu rằng việc chuyển đổi này là một quá trình enzyme.

Trong quá trình tiến hóa, các cơ chế được phát triển để bảo đảm cung cấp đủ oxy cho các mô và tế bào. Động mạch cảnh của cơ thể, liền kề với các huyết quản lớn ở hai bên cổ, chứa các tế bào chuyên biệt cảm nhận mức oxy của máu. Giải thưởng Nobel về y khoa năm 1938 cho Corneille Heymans , đã trao giải cho những khám phá cho thấy cảm giác oxy trong máu qua cơ thể động mạch cảnh kiểm soát nhịp hô hấp của chúng ta bằng cách giao du trực tiếp với não.

HIF: nguyên tố gây thiếu oxy

Ngoài việc thích ứng nhanh của thân thể do carotid (động mạch cảnh chung) kiểm soát với mức oxy thấp ( thiếu oxy ), còn có những điều chỉnh sinh lý căn bản khác. Một phản ứng sinh lý quan yếu đối với tình trạng thiếu oxy là sự gia tăng nồng độ hormone erythropoietin (gọi tắt là EPO), dẫn đến tăng sinh sản hồng cầu. Tầm quan yếu của việc kiểm soát nội tiết của hồng huyết cầu đã được biết đến vào đầu thế kỷ 20, nhưng quá trình này được kiểm soát bởi O 2 vẫn còn là một bí ẩn.

Gregg Semenza đã nghiên cứu gen EPO và cách nó được điều chỉnh bằng cách đổi thay nồng độ oxy. Bằng cách dùng chuột biến đổi gen, các phân đoạn DNA cụ thể nằm bên cạnh gen EPO đã được hiển thị để làm trung gian cho phản ứng với tình trạng thiếu oxy. Peter Ratcliffe cũng đã nghiên cứu khả năng phụ thuộc O 2 của gen EPO và cả hai nhóm nghiên cứu đều phát hiện ra rằng cơ chế cảm nhận oxy có mặt trong hồ hết hết thảy các mô, không chỉ trong các tế bào thận nơi EPO thường được sinh sản. Đây là những phát hiện quan yếu cho thấy cơ chế này nói chung và hoạt động ở nhiều loại tế bào khác nhau.

Semenza muốn xác định các thành phần tế bào làm trung gian cho phản ứng này. Trong các tế bào gan nuôi cấy, ông đã phát hiện ra một phức hợp protein liên kết với đoạn DNA được xác định theo cách phụ thuộc oxy. Ông gọi phức hợp này là nhân tố gây thiếu oxy (gọi tắt là HIF). Những cầm cố mở rộng để tinh luyện phức hợp HIF bắt đầu và vào năm 1995, Semenza đã có thể ban bố một số phát hiện quan yếu của mình, bao gồm cả việc xác định các gen mã hóa HIF. HIF được tìm thấy bao gồm hai protein kết liên DNA khác nhau, được gọi là các nhân tố phiên mã, hiện được đặt tên là HIF-1α và ARNT. giờ các nhà nghiên cứu có thể bắt đầu giải câu đố, cho phép họ hiểu những thành phần bổ sung nào có can dự và cách thức hoạt động của cỗ máy.

VHL: một nguyên tố bất ngờ

Khi nồng độ oxy cao, các tế bào chứa rất ít HIF-1α. Tuy nhiên, khi nồng độ oxy thấp, lượng HIF-1α tăng lên để nó có thể liên kết và do đó điều chỉnh gen EPO cũng như các gen khác có các đoạn DNA gắn HIF. Một số nhóm nghiên cứu cho thấy HIF-1α, thường bị suy thoái nhanh chóng, được bảo vệ khỏi sự suy thoái trong tình trạng thiếu oxy.

Ở mức oxy bình thường, một cỗ máy di động được gọi là proteasome , được công nhận bởi giải thưởng Nobel về hóa học năm 2004 cho Aaron Ciechanover, Avram Hershko và Irwin Rose, làm suy giảm HIF-1α. Trong điều kiện như vậy một peptide nhỏ, ubiquitin , được thêm vào protein HIF-1α. Ubiquitin có chức năng như một thẻ cho các protein được định sẵn cho sự xuống cấp trong proteasome. Làm thế nào ubiquitin liên kết với HIF-1α theo cách phụ thuộc oxy vẫn là một câu hỏi lớn.

Câu đáp đến từ một hướng bất thần. Gần như cùng lúc với Semenza và Ratcliffe đang tìm hiểu về gen EPO, nhà nghiên cứu ung thư William Kaelin, Jr. đang nghiên cứu một hội chứng di truyền, bệnh von Hippel-Lindau (gọi tắt là bệnh VHL). Bệnh di truyền này dẫn đến tăng đáng kể nguy cơ mắc một số bệnh ung thư trong các gia đình có đột biến VHL di truyền. Kaelin đã chỉ ra rằng gen VHL mã hóa một loại protein ngăn ngừa sự tiến công của bệnh ung thư.

Kaelin cũng chỉ ra rằng các tế bào ung thư thiếu một gen VHL chức năng diễn tả chừng độ cao của các gen bị thiếu oxy điều hòa; nhưng khi gen VHL được đưa vào tế bào ung thư, mức độ bình thường đã được hồi phục. Đây là một mai mối quan yếu cho thấy VHL bằng cách nào đó có can hệ đến việc kiểm soát các phản ứng đối với tình trạng thiếu oxy. Các mai dong bổ sung đến từ một số nhóm nghiên cứu cho thấy VHL là một phần của phức hợp gắn nhãn protein với ubiquitin, đánh dấu chúng cho sự xuống cấp trong proteasome.

Ratcliffe và nhóm nghiên cứu của ông sau đó đã thực hành một khám phá quan yếu: chứng minh rằng VHL có thể tương tác vật lý với HIF-1α và cấp thiết cho sự thoái hóa của nó ở mức oxy thường ngày. Điều này phối hợp VHL với HIF-1α.

Oxy giúp thăng bằng

Nhiều mảnh ghép đã rơi vào vị trí, nhưng điều vẫn còn thiếu là sự hiểu biết về cách các cấp O 2 điều chỉnh sự tương tác giữa VHL và HIF-1α. Việc tìm hội tụ vào một phần cụ thể của protein HIF-1α được biết là rất quan yếu đối với sự thoái hóa phụ thuộc VHL, và cả Kaelin và Ratcliffe đều ngờ rằng chìa khóa của cảm biến oxy (O 2 -sensing) nằm ở đâu đó trong miền protein này.

Năm 2001, trong hai bài báo được xuất bản song song, họ đã chỉ ra rằng dưới mức oxy thường ngày, các nhóm hydroxyl được thêm vào ở hai vị trí cụ thể trong HIF-1α. Điều chỉnh protein này, được gọi là prolyl hydroxylation (sự hydroxyl hóa prolyl) , cho phép VHL nhận biết và kết liên với HIF-1α và do đó giải thích mức độ oxy thường nhật kiểm soát sự thoái hóa HIF-1α chóng vánh với sự viện trợ của các enzyme nhạy cảm với oxy (được gọi là prolyl hydroxylase ).

Nghiên cứu sâu hơn của Ratcliffe và những người khác đã xác định các hydroxylase prolyl chịu bổn phận. Nó cũng cho thấy chức năng kích hoạt gen của HIF-1α được điều hòa bởi quá trình hydroxyl hóa phụ thuộc oxy. Những người đoạt giải Nobel ngày nay đã làm minh bạch cơ chế cảm nhận oxy và đã chỉ ra cách thức hoạt động của nó.

Oxy hình dạng sinh lý và bệnh lý

Nhờ vào công trình đột phá của những người đoạt giải Nobel này, chúng ta biết nhiều hơn về cách các mức oxy khác nhau điều chỉnh các quá trình sinh lý cơ bản. Cảm biến oxy cho phép các tế bào thích ứng sự luận bàn chất của chúng với mức oxy thấp: ví dụ, trong cơ bắp của chúng ta trong quá trình tập luyện cường độ cao.

Các ví dụ khác về các quá trình thích ứng được điều khiển bằng cảm biến oxy bao gồm việc tạo ra các huyết mạch mới và sinh sản các tế bào hồng cầu. Hệ thống miễn dịch của chúng ta và nhiều chức năng sinh lý khác cũng được tinh chỉnh bởi bộ máy O 2 -sensing. Cảm biến oxy thậm chí đã được chứng minh là rất cấp thiết trong quá trình phát triển của thai nhi, để kiểm soát sự hình thành huyết quản thường ngày và sự phát triển của nhau thai.

Cảm biến oxy là trọng điểm của một số lượng lớn các bệnh. thí dụ, bệnh nhân suy thận mãn tính thường bị thiếu máu nặng do giảm bộc lộ EPO. EPO được sản xuất bởi các tế bào trong thận và rất cần thiết để kiểm soát sự hình thành các tế bào hồng huyết cầu, như đã giải thích ở trên. Hơn nữa, cỗ máy điều hòa oxy có vai trò quan yếu trong bệnh ung thư. Trong các khối u, cỗ máy điều chỉnh oxy được dùng để kích thích sự hình thành huyết mạch và định hình lại quá trình trao đổi chất để tăng sinh hiệu quả các tế bào ung thư.

Những cụ không ngừng trong các phòng thể nghiệm hàn lâm và các công ty dược phẩm, hiện đang giao hội vào phát triển các loại thuốc có thể can thiệp vào các tình trạng bệnh khác nhau, bằng cách kích hoạt hoặc chặn cỗ máy cảm biến oxy.

Theo Nobelprize.org .

Hóa học đằng sau stress

Nhịp tim của bạn tăng lên. Hàm của bạn cứng lại. Dạ dày của bạn réo lên khi thời gian cứ trôi. Đầu óc bạn cảm thấy căng lên. Đây là cảm giác của stress hay găng khi bạn bị sức ép dẫn đến.

Triệu chứng này thì chắc ai cũng biết. Nhưng khi coi xét dưới góc độ hóa học thì đây là một chuỗi nhũng phản ứng xảy ra trong thân chúng ta. thành ra để giúp cho các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này, bài viết lần này sẽ đề cập về hóa học đằng sau stress và những vấn đề liên tưởng. Bạn hãy pha cho mình một ly cà phê và cùng nhâm nhi bài viết nhé! Let’s go!

Giới thiệu

Hiểu về hóa học của stress bắt đầu bằng sự đánh giá các phân tử trong cơ thể chúng ta gọi là dẫn truyền thần kinh. Được mệnh danh là phân tử xúc cảm, được nhà khoa học trước hết phát hiện ra sự tồn tại của chúng là Tiến sĩ Candace Pert, chúng được sinh sản trên khắp thân chúng ta, đặc biệt là trong não và dọc theo đường tiêu hóa. Một trong những chất dẫn truyền tâm thần, serotonin , hình như đã được cài đặt trong chúng ta để giảm bớt phản ứng vật lý của chúng ta đối với bít tất tay.

Cái gọi là “phản ứng găng tay” được kích hoạt khi tuyến thượng thận, một cặp tuyến có kích thước bằng quả óc chó nằm trên thận, nhận được thông điệp đau khổ từ não. Tuyến thượng thận phóng thích adrenalin (ephineprine) và cortisol, hai loại hormone tuần tự chủ xướng phản ứng “ fight-or-flight ” (chiến hay chạy).

Các triệu chứng “fight-or-flight” rất quen thuộc như nhịp tim nhanh, co cơ, tay và chân lạnh, suy nghĩ bỏ chạy. Nghe thì có vẻ khó chịu nhưng trong tình huống phù hợp, chúng rất hữu ích. tỉ dụ như phản ứng của chó khi gặp mèo ấy! Phản ứng bao tay được thiết kế để trở thành một sự kiện “bật và tắt”. ban sơ, nó không được thiết kế để ứng phó với căng thẳng mạn tính.

Tuy nhiên, khi chúng ta phát triển như con người, stress mạn tính đã đi vào cuộc sống của chúng ta. Người ta có thể mường tưởng người đàn ông thời tiền sử săn bắn nhiều ngày trong thiên nhiên và về mặt sinh vật học cần một hệ thống để giữ một cái đầu lạnh. Bằng cách tiết ra serotonin , đây là chất dẫn truyền tâm thần có ích này hình như hoạt động như một bộ đệm chống lại bao tay, cho phép chúng ta thực hành trong môi trường xung quanh đầy thách thức hoặc thậm chí đe dọa.

Hãy xem xét một Ví dụ điển hình cho việc này bằng cách xem phim đặc vụ James Bond, ông là cá nhân chủ nghĩa nguyên mẫu có nhiều serotonin ngừa. mặc dầu đạn bay và nổ tung xe hơi, ông Bond không bao giờ đổ mồ hôi hay thất bại trong việc thực hiện những cảnh nóng.

Thành phần hóa học chính

1. Dehydroepiandrosterone (DHEA)

  • Công thức phân tử: C19 H28 O2
  • M: 288.424 g / mol
  • Điểm nóng chảy: 148,5 độ Celcius hoặc 299 độ Farenheit
Cấu trúc của Dehydroepiandrosterone

DHEA là một hormone nằm ở tuyến thượng thận và có liên can đến găng tay vì nó đã được chứng minh là giúp giảm găng tay kinh niên hoặc những người bị trầm cảm. Khi nồng độ hormone DHEA tăng, găng tay trong thân thể sẽ giảm. Đây là loại hormone phổ thông nhất trong thân thể và giám sát năm mươi loại hormone khác.

Được phát hiện vào những năm 1930, hormone dồi dào này đã qua năm mươi năm tiếp theo được thí nghiệm. Vào những năm 1990 đã mang lại những nghiên cứu lớn nhất về dehydroepiandrosterone khi nó được kết luận đủ an toàn, để bán tại các cửa hàng thực phẩm tự nhiên vì lý do bổ sung. Nhiều bệnh nhân bị mất cân bằng tuyến thượng thận được cung cấp DHEA để thăng bằng với bất kỳ vấn đề nội tiết nào khác có thể xảy ra.

2. Cortisol

  • Công thức phân tử: C21 H30 O5
  • M: 362.460 g / mol
  • Điểm nóng chảy: không rõ
Cấu trúc của Cortisol

na ná như DHEA, cortisol là một loại hormone được tìm thấy ở tuyến thượng thận. Cortisol được tiết ra trong quá trình “fight-or-flight” cho phép thân thể nghĩ suy chóng vánh và hợp lý. Nồng độ cortisol cao có thể gây căng thẳng mạn tính, có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe đột biến. Hormone này cũng tham dự vào việc điều hòa huyết áp, chuyển hóa glucose hợp, chức năng miễn dịch và chống viêm. Vào những năm 1930, Edward Kendall tiết lậu rằng cortisol, giống như DHEA, nằm ở tuyến thượng thận với sáu loại hormone phổ thông khác trong cơ thể.

3. Epinephrine

  • Công thức phân tử: C9 H13 NO3
  • M: 183.204 g/mol
  • Điểm nóng chảy: không rõ
Cấu trúc của Epinephrine

Epinephrine thường được sinh sản bởi cả tuyến thượng thận và một số tế bào thần kinh. Chất này đóng một vai trò quan trọng trong phản ứng chiến hay chạy bằng cách tăng lưu lượng máu đến cơ bắp, đầu ra của tim, sự giãn nở tuỳ nhi và lượng đường trong máu. Epinephrine thực hiện điều này bằng các tác dụng của nó đối với các thụ thể alpha và beta. Chất này được tìm thấy ở nhiều loài động vật và một số sinh vật đơn bào.

Phản ứng của cơ thể khi stress

Phản ứng căng thẳng bắt đầu trong não. Khi ai đó đối mặt với một chiếc xe sắp tới hoặc nguy hiểm khác, mắt hoặc tai (hoặc cả hai) gửi thông báo đến amygdala , một khu vực của não góp phần xử lý cảm xúc. Amygdala diễn giải những hình ảnh và âm thanh. Khi nhận thấy hiểm nguy, nó tức thì gửi tín hiệu khổ cực đến vùng dưới đồi.

Vùng dưới đồi hơi giống một trung tâm chỉ huy. Vùng não này giao thiệp với phần còn lại của thân duyệt y hệ thống thần kinh tự chủ, điều khiển các chức năng thân thể không tình nguyện như thở, áp huyết, nhịp tim và sự giãn nở hoặc co thắt của các mạch máu chính và đường dẫn khí nhỏ trong phổi gọi là phế quản.

Hệ thống tâm thần tự chủ có hai thành phần là hệ thống tâm thần giao cảm và hệ thống tâm thần phó giao cảm. Hệ thống tâm thần giao cảm có chức năng như bàn đạp ga trong xe hơi. Nó kích hoạt phản ứng tranh đấu hoặc chạy, cung cấp cho thân một luồng năng lượng để nó có thể đáp ứng với những nguy hiểm nhận thức được. Trong khi đó, hệ thống thần kinh phó giao cảm hoạt động như một cái phanh. Nó thúc đẩy phản ứng “nghỉ ngơi và tiêu hóa” làm dịu thân thể xuống sau khi hiểm đã qua.

Sau khi amygdala gửi tín hiệu thống khổ, vùng dưới đồi kích hoạt hệ thống tâm thần giao cảm bằng cách gửi tín hiệu qua các dây tâm thần tự chủ đến tuyến thượng thận. Các tuyến này phản ứng bằng cách bơm hormone epinephrine (còn được gọi là adrenaline) vào máu. Khi epinephrine lưu thông trong thân thể, nó mang lại một số đổi thay về sinh lý. Tim đập nhanh hơn thường nhật, đẩy máu đến các cơ, tim và các cơ quan quan yếu khác. Nhịp tim và huyết áp tăng lên. Người qua những thay đổi này cũng bắt đầu thở nhanh hơn. Đường dẫn khí nhỏ trong phổi mở rộng.

Bằng cách này, phổi có thể lấy càng nhiều oxy càng tốt với mỗi hơi thở. Oxy bổ sung được gửi đến não, tăng sự tỉnh ngủ. Thị giác, thính giác và các cảm quan khác trở nên sắc nét hơn. Trong khi đó, epinephrine kích hoạt phóng thích đường trong máu (glucose) và chất béo từ các vị trí lưu trữ lâm thời trong cơ thể. Những chất dinh dưỡng này tràn vào máu, cung cấp năng lượng cho tuốt luốt các bộ phận của cơ thể.

tuốt tuột những đổi thay này xảy ra nhanh đến mức mọi người không biết về chúng. Trên thực tại, hệ thống dây điện hiệu quả đến mức amygdala và vùng dưới đồi bắt đầu dòng thác này ngay cả trước khi các trọng điểm thị giác của não có dịp xử lý đầy đủ những gì đang xảy ra. Đó là lý do vì sao mọi người có thể nhảy ra khỏi con đường của một chiếc xe sắp tới ngay cả trước khi họ nghĩ về những gì họ đang làm.

Khi sự gia tăng ban sơ của epinephrine lắng xuống, vùng dưới đồi kích hoạt thành phần thứ hai của hệ thống phản ứng găng – được gọi là trục HPA. Mạng lưới này bao gồm vùng dưới đồi, tuyến yên và tuyến thượng thận.

Trục HPA dựa vào một loạt các tín hiệu nội tiết tố để giữ cho hệ thống thần kinh giao cảm – “bàn đạp ga” – nhấn xuống. Nếu não tiếp tục nhận thấy thứ gì đó hiểm, vùng dưới đồi sẽ tiết ra hormone phóng thích corticotropin (CRH), đi đến tuyến yên, kích hoạt giải phóng hormone tuyến thượng thận (ACTH). Hormone này đi đến tuyến thượng thận, khiến chúng phóng thích cortisol. cơ thể do đó được nâng lên và cảnh giác cao độ. Khi mối đe dọa qua đi, nồng độ cortisol giảm. Hệ thống thần kinh phó giao cảm – “phanh” – sau đó làm giảm phản ứng bít tất tay.

Một số cách để giảm stress

1. Thư giãn

tấn sĩ Herbert Benson, giám đốc danh dự của Viện y khoa Tâm thể Benson-Henry tại Bệnh viện Đa khoa Massachusetts, đã dành đa số sự nghiệp của ông để tìm hiểu làm thế nào mọi người có thể chống lại phản ứng bít tất tay bằng cách sử dụng kết hợp các phương pháp tiếp cận gợi ra phản ứng thư giãn. Chúng bao gồm thở bụng sâu, tụ hội vào một từ nhẹ nhõm (như hòa bình hoặc tĩnh tâm), hình dung ra những cảnh tĩnh, cầu nguyện lặp đi lặp lại, yoga và thái cực quyền.

hồ hết các nghiên cứu sử dụng các biện pháp khách quan để đánh giá mức độ hiệu quả của phản ứng thư giãn trong việc chống lại găng kinh niên, đã được thực hành ở những người bị tăng huyết áp và các dạng bệnh tim khác. Những kết quả đó cho thấy kỹ thuật này có thể đáng để thử – dù rằng đối với Hầu hết mọi người, nó không phải là thuốc chữa bệnh.

2. Hoạt động thể chất

Mọi người có thể dùng tập thể dục để kìm hãm sự điển tích găng theo nhiều cách. Tập thể dục, chả hạn như đi bộ nhanh trong thời gian ngắn sau khi cảm thấy găng, không chỉ giúp thở sâu mà còn giúp giảm căng cơ. Các liệu pháp vận động như yoga, thái cực quyền và khí công phối hợp các động tác nhẹ nhõm với hơi thở sâu và sự tụ họp ý thức, tuốt luốt đều có thể tạo ra sự tĩnh tâm.

3. giao thiệp tầng lớp

Những người bạn tâm tình, bạn bè, người quen, đồng nghiệp, họ hàng, vợ / chồng và bạn đồng hành đều cung cấp một mạng từng lớp nâng cao cuộc sống – và có thể làm tăng tuổi thọ. Không rõ tại sao, nhưng lý thuyết đệm cho rằng những người thích mối quan hệ thân thiết với gia đình và bạn bè nhận được sự hỗ trợ về mặt cảm xúc, gián tiếp giúp họ duy trì trong những lúc găng tay và khủng hoảng mạn tính.

Bài viết đến đây là hết rồi. Hi vọng sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong ngày mai. Lần sau nếu ai có hỏi về stress thì hãy nhớ về hóa học đằng sau nó nhé!

Tham khảo Wholehealthchicago , Chemistryislife , Harvard Health Publishing , Collective-evolution , C&EN Experiencelife .

để ý: thông tin về stress và một số cách giảm stress trong bài viết này chỉ mang tính chất tham khảo và không sử dụng để thay thế cho lời khuyên y tế trực tiếp từ bác sĩ. thành thử hãy hỏi ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia để cho thông tin xác thực hơn trước khi thực hiện. Xin cảm ơn!

Các loại virus đằng sau bệnh cảm lạnh và cúm

Vào thời khắc này, bạn có lẽ đã nghe rất nhiều thông báo về bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona (nCoV) gây ra. Loại bệnh này khởi hành từ Vũ Hán – Trung Quốc. Tính đến thời điểm của bài viết này thì đã có:

  • 80 người tử vong do viêm đường hô hấp cấp do virus corona, 2.800 ca nhiễm bệnh.
  • Trong đó, 95% ca tử vong và hơn 50% ca nhiễm bệnh ở tỉnh Hồ Bắc.
  • 55 ca nhiễm bệnh viêm đường hô hấp cấp do virus corona bên ngoài Trung Quốc đại lục, bao gồm: Australia (4 ca), Pháp (3 ca), Hong Kong (8 ca), Nhật (4 ca), Macao (5 ca), Malaysia (4 ca), Nepal (1 ca), Singapore (4 ca), Hàn Quốc (3 ca), Đài Loan (4 ca), Thái Lan (8 ca), Mỹ (5 ca) và Việt Nam (2 ca).

thông tin là vậy! Nhưng có bao nhiêu bạn đang đọc bài viết này hiểu rõ về các loại virus đằng sau bệnh cảm lạnh và cúm? vì vậy trong bài viết này, blog sẽ giúp bạn hiểu sơ lược về những loại virus gây bệnh này nhé!

hồ hết chúng ta sẽ không vượt qua cả mùa đông mà không bị cảm lạnh vào một lúc nào đó. Trung bình, người lớn có từ hai đến năm lần cảm lạnh mỗi năm. con trẻ có nhàng nhàng từ bảy đến mười. Hơn 200 loại virus khác nhau có liên can đến cảm lạnh, và những loại này có thể được chia nhỏ gọn hơn thành nhiều họ chính.

Các loại virus gây cảm lạnh đốn ở người là rhinovirus hay còn gọi là virus mũi. Virus này không được đặt theo tên của động vật có vú có sừng châu Phi / châu Á, mà từ “rhinos” Hy Lạp, có tức thị “mũi”. Tên này liên can đến thực tiễn là các con rhinovirus sao chép tốt nhất ở nhiệt độ được tìm thấy trong mũi (33-35˚C). Đối với những người tò mò về mặt ngôn ngữ, từ ‘rhinoceros’ cũng có cỗi nguồn từ Hy Lạp, có tức là ‘sừng mũi’.

Có ba loài rhinovirus ảnh hưởng đến con người là A, B và C; với đường kính 30nm. Trong số này có một số lượng lớn các kiểu huyết thanh hay serotypes khác nhau. Serotypes là những virus khác nhau về protein màng của chúng. Có hơn 150 loại huyết thanh khác nhau của rhinovirus đã được biết đến và tổng thể chúng chiếm 30-50% trong cả thảy các trường hợp cảm lạnh.

Virus corona hay coronavirus là họ virus phổ thông nhất tiếp theo sau gây ra cảm lạnh, chiếm 10-15%, với 7 loài được biết đến có ảnh hưởng đến con người và có đường kính 120nm. Chúng đã đứng sau một số trường hợp dịch bệnh cao, bao gồm cả dịch SARS vài năm trước và dịch coronavirus ngày nay ở Trung Quốc .

Các triệu chứng cảm lạnh do coronavirus gây ra có khuynh hướng nghiêm trọng hơn so với các triệu chứng gây ra bởi rhinovirus, và chúng cũng có thể gây viêm phổi. Tên của chúng xuất hành từ tiếng Latin cho vương miện, ‘corona’, cho các hình chiếu bề mặt giống như vương miện của chúng.

Một loại virus khác có thể gây ra các triệu chứng nghiêm trọng hơn là virus cúm, chiếm 5-15%, có 3 loài được biết đến có ảnh hưởng đến con người và có đường kính 120nm. Nhiễm virus này thường được gọi là cúm, với các triệu chứng bao gồm sốt. Có 12 loại huyết thanh được biết đến của virus cúm A, loại phổ biến nhất ở người và gây ra dịch cúm hàng năm trên toàn thế giới.

Không giống như hồ hết các loại virus cảm lạnh khác, bạn có thể tiêm ngừa virus cúm. Điều này không thực tiễn – vì một số loại virus gây cảm lạnh và cúm, và chúng biến đổi chóng vánh, rất khó để phát triển một loại vắc-xin có hiệu quả và chẳng thể sinh sản một loại vắc-xin có thể bảo vệ chống lại toàn bộ các virus gây cảm lạnh.

Tuy nhiên, do các triệu chứng nghiêm trọng hơn và khả năng gây tử vong ở người già và dễ bị thương tổn, nên tiêm vắc-xin cúm hàng năm. Cụ thể, họ được cung cấp cho các nhóm có nguy cơ.

Hai lần một năm, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chỉ đạo việc sản xuất vắc-xin cúm dựa trên dự đoán các chủng virus có khả năng lưu hành. mặc dầu không đảm bảo rằng những người được tiêm phòng sẽ không bị cúm, nhưng hồ hết các năm, nó cung cấp sự bảo vệ tương đối tốt. Việc tiêm phòng chỉ tốt như dự đoán; nếu các chủng trội khác với các dự đoán, vắc-xin có thể kém hiệu quả.

Các tuyển lựa điều trị khác cho cảm lạnh là rất ít và xa. Vì cảm lạnh và cúm là do nhiễm virus, kháng sinh, điều trị nhiễm khuẩn, không hiệu quả. Có bằng cớ tối thiểu về hiệu quả của các phương pháp điều trị khác như vitamin C, tỏi và mật ong. Có một số bằng chứng cho thấy viên ngậm kẽm acetate làm giảm thời gian xuất hiện triệu chứng cảm lạnh tới một phần ba nếu chúng được dùng trong vòng 24 giờ kể từ khi xuất hiện triệu chứng.

Chúng ta thậm chí không biết thảy mọi thứ cần biết về virus gây cảm lạnh và cúm. Ngoài các loại virus mà chúng ta đã gặp, một số loại khác có thể gây cảm lạnh. Virus hợp bào hô hấp (5%), virus parainfluenza (5%), adenovirus (<5%), enterovirus (<5%) và metapneumovirus (?%) đều là những loại khác.

Ngoài ra, trong 20-30% cảm lạnh, virus gây ra nó không thể được xác định. Trong các trường hợp, nó có thể là một loại virus đã biết, nhưng các loại khác có thể là virus gây cảm lạnh chưa được phát hiện.

Trong hầu hết các trường hợp, nếu bạn bị cảm lạnh, bạn chỉ bị nhiễm một trong những loại virus mà chúng ta đã đề cập ở đây. Tuy nhiên, trong khoảng 5% trường hợp, những người bị cảm lạnh bị nhiễm cùng lúc nhiều loại virus. Không phải lúc nào bạn cũng có thể biết mình đã nhiễm loại virus nào, vì các tùy chọn điều trị (hoặc thiếu) là giống nhau, do đó không đặc biệt bổ ích để xác định.

Tuy nhiên, có một số điều bạn có thể làm để giảm các triệu chứng – và hóa học có thể viện trợ, bạn có thể tham khảo thêm bài viết tại đây .

Bài viết đến đây là hết rồi. coi sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong mai sau. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Compound Interest , C&EN , NCBI , Scientificamerican Zing .

Phương pháp kiểm tra coronavirus làm việc như thế nào?

Tại thời điểm viết bài này, đã có hơn một phần ba triệu trường hợp được xác nhận COVID-19 trên toàn thế giới. Số người chết đang lên tới hơn 14.000. vì vậy việc chay đua theo thời gian để cho ra kết quả xét nghiệm là cuộc cạnh tranh giữa phòng thí điểm của các nhà nước. Nhưng các xét nghiệm này được thực hành ra sao và chúng hoạt động như thế nào thì không phải ai cũng hiểu?

thành ra, trong bài viết này blog sẽ giúp cho các bạn hiểu rõ hơn về phương pháp soát coronavirus và cách hoạt động của nó ra sao nhé!

Đôi nét

Các xét nghiệm hiện đang được dùng để xác định nhiễm coronavirus được gọi là xét nghiệm PCR. PCR là viết tắt của “phản ứng chuỗi polymerase”, và đây không phải là phương pháp xét nghiệm mới – xét nghiệm PCR đã được dùng từ những năm 1980 và có một loạt các vận dụng bao gồm chẩn đoán bệnh truyền nhiễm. Các xét nghiệm cho phép sao chép một lượng nhỏ DNA hàng triệu lần để có đủ phát hiện và xác nhận nhiễm trùng.

Cách lấy mẫu

kiểm tra virus cần một mẫu. trước tiên, một miếng gạc hoặc tăm bông được đem lấy mẫu, thường là từ mũi của bệnh nhân hoặc phía sau cổ họng của họ. Gạc sau đó được đặt trong một thùng chứa an toàn và gửi đến phòng thử nghiệm để phân tích thêm. phân tích cần phải diễn ra trong vòng một đôi ngày kể từ khi mẫu được lấy.

DNA tạo nên nguyên liệu di truyền của chúng ta và của một số loại virus. Nhưng virus gây ra COVID-19, SARS-CoV-19, không chứa DNA chuỗi kép, mà là RNA chuỗi đơn. Vì các xét nghiệm PCR chỉ có thể tạo bản sao DNA, trước hết chúng ta cần chuyển đổi RNA thành DNA.

Phương pháp thực hiện

RNA virus được ly trích từ ​​mẫu tăm bông. Sau đó, nó cần phải được tinh luyện từ các tế bào người và các enzyme có thể can thiệp vào xét nghiệm PCR. bình thường, các phòng thí điểm sử dụng bộ công cụ được sinh sản bởi các nhà cung cấp hóa chất đặc biệt cho mục đích này để làm điều này.

RNA thuần khiết được trộn với một enzyme gọi là enzyme phiên mã ngược (reverse transcriptase). Enzyme này chuyển đổi RNA chuỗi đơn thành DNA chuỗi kép để nó có thể được sử dụng trong xét nghiệm PCR.

DNA virus sau đó được thêm vào ống thử và tiếp tục được thêm vào:

  • Các đoạn mồi: đây là những đoạn DNA ngắn được thiết kế để kết liên với các phần đặc trưng của DNA virus. Do đó, chúng sẽ không liên kết với DNA không phải từ virus.
  • Nucleotide: đây là những khối xây dựng hay sườn tạo nên DNA.
  • Một enzyme DNA-building: điều này tạo ra các bản sao của DNA.

Một máy PCR làm nóng hỗn tạp. Điều này làm cho DNA sợi kép tách ra và sau đó mồi có thể liên kết với DNA khi nó nguội đi. Một khi các mồi đã kết liên với DNA, chúng cung cấp một điểm khởi đầu cho enzyme DNA-building để giúp sao chép nó. Quá trình này tiếp chuyện phê chuẩn việc làm nóng và làm lạnh lặp đi lặp lại cho đến khi hàng triệu bản sao DNA được tạo ra.

Cách phát hiện virus

Phương pháp đề cập ở trên giải thích cách PCR khuếch đại mã di truyền của virus, nhưng không phải là cách nó được phát hiện. Đây là nơi thuốc nhuộm huỳnh quang đi vào. Các loại thuốc nhuộm này được thêm vào ống nghiệm trong khi DNA đang được sao chép.

Sau đó, chúng kết liên với DNA được sao chép, giúp tăng cường huỳnh quang, khiến chúng phát ra nhiều ánh sáng hơn. Đây là ánh sáng cho phép chúng ta xác nhận sự hiện diện của virus.

Sự phát huỳnh quang tăng lên khi nhiều bản sao DNA virus được tạo ra. Nếu huỳnh quang vượt qua một ngưỡng nhất quyết, đặt trên mức nền dự kiến, thí điểm là dương tính. Nếu virus không có trong mẫu, xét nghiệm PCR sẽ không tạo ra các bản sao, bởi vậy ngưỡng huỳnh quang không đạt được – thử nghiệm là âm tính.

một đôi sự hạn chế

mặc dầu nghe có vẻ phức tạp, xét nghiệm PCR là một cách thẩm tra khá đáng tin tức đối với các bệnh truyền nhiễm, đó là lý do vì sao chúng được dùng rộng rãi để kiểm tra COVID-19. Tuy nhiên, một số quốc gia đã gặp phải vấn đề khi núm mở rộng khả năng thí nghiệm của họ.

Một lý do cho điều này chỉ đơn giản là thực tại là bài soát mất thời gian. Có thể mất vài giờ để có kết quả; phối hợp điều này với khả năng thử nghiệm trong phòng thí điểm và nó đặt ra giới hạn về số lượng thử nghiệm mà một phòng thí nghiệm có thể thực hiện trong một ngày.

Một phòng thử nghiệm nghiên cứu nhỏ có thể có thể chạy khoảng 80 bài rà soát mỗi ngày; các phòng thử nghiệm lớn hơn nhiều với nhiều máy có thể chạy trong khoảng 1000-2000.

Một hạn chế khác là sự sẵn có của thuốc thử cấp thiết để chạy thí nghiệm. Do nhu cầu toàn cầu về các thí điểm này sau đại dịch đã dẫn đến sự thiếu hụt, hạn chế số lượng thí nghiệm được thực hiện.

Trong một số trường hợp, các xét nghiệm không hoạt động như dự định. Các xét nghiệm ban đầu được cung cấp để chẩn đoán ở Hoa Kỳ bao gồm các bộ mồi khác nhau cho các mục đích khác nhau.

Điều này bao gồm một trong đó nhắm mục tiêu một chuỗi di truyền được tìm thấy trong bít tất các coronavirus như một hình thức rà kiểm soát. Phần thẩm tra này không hoạt động chuẩn xác; trong khi nó không ngăn họ sử dụng được, nó gây ra sự nhầm lẫn về việc liệu kết quả có khả quan hay không, làm chậm chẩn đoán.

Ô nhiễm hoặc suy thoái cũng có thể gây ra vấn đề. Những điều này có thể dẫn đến dương tính giả (khi ai đó không có virus nhưng xét nghiệm cho biết họ làm) hoặc âm tính giả (khi ai đó có virusnhưng xét nghiệm cho biết họ không có virus).

Một hạn chế lớn rốt cuộc của loại thử nghiệm này là nó chỉ có thể cho bạn biết nếu ai đó có virus tại thời điểm thí điểm. Nó không thể cho chúng ta biết họ đã bị nhiễm virus hay chưa nhưng sau đó đã phục hồi trước khi thí điểm. Điều này khá có ích để biết, vì nếu ai đó bị nhiễm virus và đã bình phục, họ sẽ miễn dịch với việc bắt lại nó (chí ít là trong một thời gian).

mai sau…

Một loại xét nghiệm có thể cho chúng ta biết liệu ai đó đã từng nhiễm virus trước đó là xét nghiệm dựa trên kháng thể. Cơ thể bạn sinh sản kháng thể để chống lại nhiễm trùng. Những kháng thể này tồn tại trong máu của bạn trong một thời kì sau khi bị nhiễm trùng và các xét nghiệm có thể phát hiện ra chúng.

ngày nay, một số công ty đang nghiên cứu xét nghiệm kháng thể đối với virus SARS-CoV-2 và dự kiến ​​rằng chúng sẽ được triển khai nhanh chóng sau khi chúng có sẵn.

Có những thí nghiệm khác cũng có thể bổ ích. Một loại khác cữ các protein cụ thể trên bề mặt của virus. Chúng nhanh hơn xét nghiệm PCR, nhưng cũng kém nhạy hơn, do đó có nhiều khả năng cho kết quả không chính xác.

Tổ chức Y tế Thế giới đã nhấn mạnh tầm quan yếu của xét nghiệm như là một phần của phản ứng trên toàn thế giới đối với đại dịch COVID-19. Có sự đổi thay đáng kể về số lượng thí điểm được thực hiện ở các nhà nước khác nhau. Trung Quốc và Hàn Quốc đều đã chạy khoảng 300.000 bài rà, trong khi Vương quốc Anh và Hoa Kỳ chỉ chạy 50.000 và 40.000 ứng.

thí điểm ít hơn có tức thị khó theo dõi sự lây lan của nhiễm trùng và cách ly và theo dõi các xúc tiếp của người bị nhiễm bệnh.

Lời khuyên cho bạn

Cho đến khi khả năng kiểm tra tăng lên và nhiều loại xét nghiệm trở nên khả dụng, các nhà nước đang khuyên công dân của họ nên tự cách ly nếu họ nghĩ rằng họ có thể có các triệu chứng của virus.

Một số người chỉ có thể biết kiên cố rằng họ đã nhiễm virus một khi đã có xét nghiệm kháng thể, nhưng làm theo lời khuyên này và rằng cách xa tầng lớp là cách tốt nhất để ngăn chặn sự lây lan của nó.

Hãy nhớ rằng, dù rằng bạn có thể không thuộc một trong những nhóm có nguy cơ bị biến chứng nghiêm trọng hoặc tử vong do virus, hành động của bạn có thể khiến bạn không truyền nó cho người khác. Và đích thực, ở trong nhà của bạn trong một đôi tuần hình như là một cái giá nhỏ phải trả để cứu một cuộc sống.

Bài viết đến đây là hết rồi. nom sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong mai sau. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau nó nhé!

Tham khảo Zing , Wired , The bumbling biochemist , Compound Interest , và Ourworldindata .

Làm thế nào để loại bỏ coronavirus?

Làm thế nào để bạn tranh đấu một cái gì đó bạn không thể nhìn thấy? Đó là câu hỏi khi nói đến cuộc khủng hoảng coronavirus hiện đang có, làm cho nhiều người trong chúng ta phải cách ly tại nhà. Khoảng cách vật lý là một câu đáp quan trọng để ngăn chặn sự lây lan của vi rút, vì việc tránh tiếp xúc ngăn bạn lây lan sang người khác. Nhưng làm thế nào chúng ta có thể tranh đấu trực tiếp với virus?

Đôi nét

trước nhất có lẽ bạn đã biết vi rút này được gọi là “coronavirus mới” hay có tên tiếng Anh là “ novel coronavirus “. Đó chỉ là một cách khác để nói rằng đây là một loại coronavirus mà chúng ta chưa từng thấy ở người trước đây. Các coronavirus thực sự là một họ vi rút lớn, và một trong số chúng gây ra các triệu chứng mà chúng ta gọi là cảm lạnh thường ngày. Trong đó, SARS-CoV-2 là thành viên đặc biệt của gia đình này gây ra dịch bệnh này.

Phương thức truyền nhiễm chính của coronavirus là từ người sang người khi họ tiếp xúc gần với nhau. Các tiếp xúc gần này có thể diễn ra dưới hình thức một cái ôm, một cái bắt tay hoặc bị kẹt trong một không gian công cộng đông đúc – nơi mà người mắc SARS-CoV-2 có thể lây bệnh bằng giọt bắn duyệt những cú nhảy mũi hay ho.

Thế nhưng vì các giọt bắn này khá nặng, chúng sẽ dễ dàng rơi xuống các bề mặt. Chúng có thể tồn tại trên những bề mặt này đủ lâu cho tới khi có người chạm tay vào và đưa virus lên mắt, mũi và miệng của mình.

Dù sao, vì đó là một loại vi rút mới, chúng ta không có vắc-xin cho nó và việc chế tác vắc-xin có khuynh hướng mất một khoảng thời kì. Đây là lý do tại sao việc ngăn chặn căn bệnh này lây lan mau chóng và áp đảo các bệnh viện hiện đang là chọn lọc tốt nhất của chúng ta.

Để hiểu cách thức hoạt động của chúng, thật hữu dụng khi biết về cấu trúc của loại virus đặc biệt này. SARS-CoV-2 là một loại virus có màng bao bọc (enveloped virus). Điều này có tức thị nó có một lớp bên ngoài bao xung quanh nguyên liệu di truyền của nó. Lớp bên ngoài được làm từ các phân tử chất béo và là một trong những mục tiêu có thể để diệt vi rút. Chúng ta cũng có thể nhắm đích các protein trong lớp này, hoặc thậm chí cả nguyên liệu di truyền.

Rửa tay trong 20 giây

Bên ngoài thân thể, có nhiều cách để chúng ta diệt vi rút và giảm nhịp lây vi rút. “Rửa tay trong 20 giây” là câu thần chú mà bạn đã nghe nói nhiều lần trong tháng qua. Đó là bởi đây là cách tốt nhất để xoá sổ vi rút. Xà phòng chứa các phân tử được gọi là chất hoạt động bề mặt, có hai đầu: một đầu hòa tan rất tốt trong chất béo (kị nước), trong khi đầu còn lại hòa tan rất tốt trong nước (ưa nước). Khi các phân tử này xúc tiếp với lớp chất béo bên ngoài của SARS-CoV-2, chúng sẽ hòa tan nó và xé virus ra.

Cách xà phòng xoá sổ virus (Đồ họa: Jonathan Corum và Ferris Jabr, Việt hóa: CafeF)

Khi bạn rửa tay với xà phòng và nước, mọi vi sinh vật trên tay bạn đều bị “vây hãm” bởi các phân tử xà phòng. Đuôi kỵ nước của các phân tử xà phòng đang trôi nổi tự do này sẽ nạm tránh xa nước và trong quá trình đó, chúng sẽ va vào các màng lipid của virus và phá hủy virus.

vớ các loại xà phòng đều chứa các phân tử chất hoạt động bề mặt này, nên việc bạn dùng loại nào thực thụ không quan trọng. Một số loại xà phòng có chứa các thành phần kháng khuẩn bổ sung, nhưng chúng có hoạt tính chống lại vi khuẩn (tôi đoán vậy), vì thế chúng không ảnh hưởng đến vi rút. cho nên, các phân tử chất hoạt động bề mặt mà xà phòng chứa vẫn là thành phần hoạt chất chính.

Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn về hóa học của xà phòng và chất hoạt động bề mặt thì bạn có thể tham khảo một bài viết khác sạch tại đây nhé! Xà phòng và nước không chỉ tốt cho tay của bạn – nó cũng hiệu quả trong việc làm sạch bề mặt, bởi thế bạn không cần phải hấp tấp và mua bất kỳ chất tẩy rửa bề mặt chuộng nào.

cho nên xà phòng thật là tuyệt! Nhưng nếu bạn chẳng thể rửa tay tức tốc thì sao? Nếu bạn đang đến siêu thị để mua sắm thực phẩm, có nhẽ bạn sẽ không dễ dàng tiếp cận với xà phòng và bồn rửa. Đây là nơi mà các chất diệt trùng tay, gel hay nước rửa tay khô hữu ích – giả sử bạn đã có được một số trước khi nó chừng như khan hiếm ở khắp mọi nơi.

Nước rửa tay khô

Đầu tiên, điều quan yếu cần lưu ý là nước rửa tay khô không phải là tất tật được tạo ra giống nhau. Nước rửa tay khô chứa cồn là loại mà bạn muốn. Có những loại nước rửa tay khô không chứa cồn, nhưng những chất này được chứng minh là kém hiệu quả hơn đối với vi-rút. Mặt khác, các chất diệt trùng có cồn, có hiệu quả chống lại nhiều loại vi rút, bao gồm cả SARS-CoV-2.

Một điểm khác là chúng cần chứa ít ra 60% cồn. Nếu bạn đang dùng nó để làm sạch các bề mặt, trọng điểm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (gọi tắt là CDC) khuyến nghị rằng cần có nồng độ cồn tối thiểu 70%. Các phân tử rượu đang thực hiện công việc rếch rác ở đây – chúng làm hỏng cấu trúc của protein vi rút, diệt vi rút. Ngoài ra, chúng cũng hòa tan lớp chất béo bên ngoài của vi rút. Bạn có thể tham khảo thêm bại viết khác tại đây nhé!

Rửa tay bằng xà phòng và nước rửa tay khô có cồn là những chọn lựa tốt nhất để xoá sổ bất kỳ dấu vết vi rút nào trên tay bạn. Đối với các bề mặt cứng, bạn cũng có một đôi tùy chọn khác hoạt động theo cách na ná chống lại vi rút.

Làm sạch bề mặt cứng

Một giải pháp tẩy rất hiệu quả trong việc làm sạch các bề mặt cứng. CDC giải thích cách tạo ra dung dịch 0,1% từ thuốc tẩy gia dụng trên trang web của họ . Bleach (chất tẩy trắng) phản ứng với và phá hủy protein vi rút và vật liệu di truyền vi rút. Điều quan trọng là phải xịt nó lên bề mặt và sau đó để nó hoạt động trong khoảng 10 phút để đạt hiệu quả tối đa.

Điều quan trọng là không trộn chất tẩy với các chất tẩy rửa khác. Dù sao cũng không cấp thiết, vì nó tự làm một công việc rất hiệu quả. Và nếu bạn làm thế, sẽ có nguy cơ chất gột rửa phản ứng với chất tẩy trắng và tạo ra khí clo độc hại. Chúng ta đang ráng để diệt virus ở đây, không phải bạn.

Tối thiểu 0,5% dung dịch hydro peroxide cũng có hiệu quả chống lại vi rút. Nó hoạt động theo cách na ná như thuốc tẩy clo, phản ứng và phá hủy protein của vi rút và vật liệu di truyền. hao hao, nó nên được để lại cho đến mười phút. Bạn cũng không nên trộn lẫn với các chất tẩy rửa khác, đặc biệt là những chất có chứa giấm. Giấm và hydro peroxide tạo ra axit peracetic ăn mòn, và trong khi nó cũng được dùng trong một số chất gột rửa, không nên tự trộn lẫn nó như thế này.

Thật sự thì các tùy chọn thuốc tẩy và peroxide là quá mức cần thiết. Xà phòng và nước sẽ làm một công việc hiệu quả trên bất kỳ bề mặt nào bạn có thể làm sạch với chúng. Xà phòng cũng ít hiểm nguy hơn khi làm việc và có thể dễ dàng sử dụng để thẳng thớm làm sạch các bề mặt bạn chạm vào thẳng thớm.

khước từ bổn phận

Với tuốt những gì đã nói ở trên, đây là thời khắc Từ chối trách nhiệm. Bạn có thể rửa tay cứ năm phút một lần và lau chùi các bề mặt trong nhà bạn. Nó vẫn không bảo đảm bạn sẽ không nhiễm vi rút. Những gì chúng ta đang rứa làm ở đây là giảm rủi ro bạn dính phải nó, nhưng rất khó để giảm rủi ro đó xuống không.

Nhưng bên ngoài khoảng cách vật lý, bạn hãy hy vọng rằng việc luyện tập, rửa tay và làm sạch bề mặt là hành động trực tiếp tốt nhất chúng ta có thể thực hiện để ngăn chặn vi rút lây lan. Bằng cách đó, chúng ta sẽ giảm bớt gánh nặng cho các dịch vụ y tế của mình và hy vọng sẽ giúp cứu sống.

Bài viết đến đây là hết rồi. nhìn nhận sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong tương lai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Compound Interest , Báo Dân Sinh , HaNoiTV , WHO , The Conversation .

Virus là gì?

Virus là gì? Đây có lẽ là câu hỏi được quan tâm nhiều nhất vào thời khắc hiện tại khi dịch Covid-19 đang diễn ra. Nhưng để hiểu rõ và đáp cho câu hỏi này thì không phải ai cũng hiểu đặc biệt như tôi. vì vậy để trang bị tri thức cho bản thân, tôi đã tìm hiểu căn bản về virus. Các bạn hãy theo tôi từng bước phân tách về chúng nhé!

Đôi nét

Các nhà khoa học từ lâu đã tìm cách khám phá ra cấu trúc và chức năng của virus. Virus là duy nhất ở chỗ chúng đã được phân loại cả dạng sống và không sống ở nhiều điểm khác nhau trong lịch sử sinh vật học. Virus không phải là tế bào mà là những hạt không sống, lây nhiễm. Chúng có khả năng gây ra một số bệnh, bao gồm ung thư, ở nhiều loại sinh vật khác nhau.

Các mầm bệnh virus không chỉ lây nhiễm cho người và động vật, mà còn cả thực vật, vi khuẩn, sinh vật nguyên sinh và vi khuẩn cổ. Những hạt cực nhỏ này nhỏ hơn vi khuẩn khoảng 1000 lần và có thể tìm thấy ở hầu hết mọi môi trường. Virus không thể tồn tại độc lập với các sinh vật khác vì chúng phải chiếm lấy một tế bào sống để sinh sản.

Cấu trúc của virus

Cấu trúc chung của virus gây bệnh

Một hạt virus, còn được gọi là virion, về cơ bản là axit nucleic (DNA hoặc RNA) được bao bọc hoặc phủ trong vỏ protein. Virus cực kỳ nhỏ, đường kính khoảng 20 – 400 nanomet. Loại virus lớn nhất, được biết đến với tên gọi MimVD, có thể đo đường kính lên tới 500 nanomet. Trong khi đó, một tế bào hồng cầu của con người có đường kính khoảng 6000 đến 8000 nanomet.

Ngoài các kích cỡ khác nhau, virus cũng có nhiều hình dạng khác nhau. Tương tự như vi khuẩn, một số virus có hình trạng hình cầu hoặc hình que. Các virus khác là icosahedral (khối đa diện có 20 mặt) hoặc hình xoắn ốc. hình dáng virus được xác định bởi lớp vỏ protein bao bọc và bảo vệ bộ gen của virus.

nguyên liệu di truyền của virus

Virus có thể có DNA chuỗi kép, RNA chuỗi kép, DNA chuỗi đơn hoặc RNA chuỗi đơn. Loại nguyên liệu di truyền được tìm thấy trong một loại virus cụ thể phụ thuộc vào bản tính và chức năng của loại virus cụ thể.

Các vật liệu di truyền thường không được tiếp xúc nhưng được đậy bởi một lớp vỏ protein được gọi là capsid. Bộ gen của virus có thể bao gồm một số lượng gen rất nhỏ hoặc lên đến hàng trăm gen tùy thuộc vào loại virus. Lưu ý rằng bộ gen thường được tổ chức dưới dạng một phân tử dài thường thẳng hoặc tròn.

Vỏ capsid của virus

Lớp vỏ protein chứa vật liệu di truyền của virus được gọi là capsid. Một capsid bao gồm các tiểu đơn vị protein được gọi là capsome. Capsid có thể có một số hình trạng như: đa diện, hình que hoặc dạng phức hợp. Capsid có chức năng bảo vệ nguyên liệu di truyền virus khỏi bị hư hại.

Ngoài lớp vỏ protein, một số virus có cấu trúc chuyên biệt. thí dụ, virus cúm có vỏ bọc giống như màng bao quanh capsid của nó. Những virus này được gọi là virus bao bọc. Màng bọc này có cả tế bào chủ và các thành phần virus để tương trợ virus lây nhiễm vào vật chủ của nó. Bổ sung capsid cũng được tìm thấy trong vi khuẩn. tỉ dụ, vi khuẩn có thể có “đuôi” protein gắn vào capsid được sử dụng để lây nhiễm vi khuẩn chủ.

Sao chép virus

Virus không có khả năng tự sao chép gen của chúng. Chúng phải dựa vào một tế bào chủ để sinh sản. Để sự nhân lên của virus xảy ra, trước nhất virus phải lây truyền vào tế bào chủ.

Virus tiêm nguyên liệu di truyền của nó vào tế bào và sử dụng các bào quan của tế bào để sao chép. Khi một số lượng virus đủ đã được sao chép, các virus mới được hình thành sẽ phá vỡ tế bào chủ và chuyển sang lây truyền các tế bào khác. Loại sao chép virus này được gọi là chu trình tan (lytic cycle).

Một số virus có thể sao chép theo chu trình tiềm tan (lysogenic cycle). Trong quá trình này, DNA virus được đưa vào DNA của tế bào chủ. Tại thời khắc này, bộ gen của virus được biết đến như một prophage và đi vào dạng không hoạt động. Bộ gen prophage được sao chép cùng với bộ gen của vi khuẩn khi vi khuẩn phân chia và được truyền dọc theo từng tế bào con của vi khuẩn.

Khi được kích hoạt bằng cách thay đổi các điều kiện môi trường, DNA prophage có thể trở nên tan (lytic) và bắt đầu sao chép các thành phần virus trong tế bào chủ. Các virus không được bao bọc được phóng thích khỏi tế bào bằng cách ly giải hoặc exocytosis . Mảng bọc virus thường được phóng thích bằng cách nảy chồi hoặc mọc mằm.

Exocytosis là quá trình chuyển di các nguyên liệu từ bên trong một tế bào ra bên ngoài tế bào.

Prophage là một bộ gen của vi khuẩn được đưa vào và tích hợp vào thể nhiễm sắc DNA của vi khuẩn.

Bệnh do virus

Virus gây ra một số bệnh trong các sinh vật mà chúng lây. Nhiễm trùng ở người và các bệnh do virus gây ra bao gồm sốt Ebola, thủy đậu, sởi, cúm, HIV/AIDS và herpes.

Vắc-xin đã có hiệu quả trong việc ngăn ngừa một số loại nhiễm virus, chả hạn như thủy đậu nhỏ ở người. Chúng hoạt động bằng cách giúp thân xây dựng phản ứng của hệ miễn nhiễm chống lại các loại virus cụ thể.

Các bệnh do virus gây ảnh hưởng đến động vật bao gồm bệnh dại, bệnh lở mồm long móng, cúm gia cầm và cúm lợn. Các bệnh thực vật bao gồm bệnh khảm, đốm vòng, xoăn lá và bệnh cuốn lá. Virus được gọi là vi khuẩn gây bệnh ở vi khuẩn và vi khuẩn cổ.

Bài viết đến đây là hết rồi. mong sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong tương lai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Thoughtco và tổng hợp.

Hóa học đằng sau sữa không đường lactose

Nếu bạn tránh các sản phẩm sữa thông thường vì không dung nạp đường sữa , bạn có thể chuyển sang loại không có đường sữa và các sản phẩm từ sữa khác. Bạn đã bao giờ tự hỏi không dung nạp đường sữa có tức là gì hoặc làm thế nào hóa chất này được loại bỏ khỏi sữa không? Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn về loại sữa này nhé!

Không dung nạp lactose

Không dung nạp lactose không gây dị ứng với sữa. Điều đó có tức thị thân thể thiếu lượng enzyme tiêu hóa lactase, cấp thiết để phá vỡ đường sữa. cho nên, nếu bạn bị chứng không dung nạp đường sữa và uống sữa bộc trực, đường sữa sẽ đi qua đường tiêu hóa của bạn và không đổi thay.

Trong khi thân bạn chẳng thể tiêu hóa được đường sữa, vi khuẩn đường ruột có thể dùng nó, nó giải phóng axit lactic và khí như sản phẩm của phản ứng. Điều này dẫn đến đầy hơi và đau bụng khó chịu.

Đôi nét

Tổng cộng có 65% dân số loài người hiện mắc chứng không dung nạp đường sữa (LI): uống sữa động vật khiến họ bị bệnh, với các triệu chứng bao gồm đau bụng và đầy hơi. Đó là mô hình tiêu biểu cho hầu hết các động vật có vú: chúng ngừng khả năng tiêu hóa sữa động vật một khi chúng đã chuyển sang thức ăn rắn.

Sau đây là những ước tính dựa trên lượng mẫu thử khá nhỏ:

  • Đông và Nam Âu: 15 – 54% có enzyme LP
  • Trung và Tây Âu: 62 – 86%
  • Quần đảo Anh và Scandinavia: 89 – 96%
  • Bắc Ấn Độ: 63%
  • Nam Ấn Độ: 23%
  • Đông Á, người Mỹ bản địa: hiếm
  • Châu Phi: một ít, với tỷ lệ cao nhất can hệ đến những người chăn nuôi lạc đà.
  • Trung Đông: một ít, với tỷ lệ cao nhất can dự đến những người chăn nuôi lạc đà.

Lý do cho sự đổi thay địa lý trong sự tồn tại của lactase có can dự đến cỗi nguồn của nó. LP được cho là đã phát sinh do sự thuần hóa của động vật có vú và sự ra đời của sữa.

35% dân số khác có thể tiêu thụ sữa động vật một cách an toàn sau khi cai sữa, nghĩa là họ có sự tồn tại của men lactase (LP) và các nhà khảo cổ học tin rằng đó là một đặc điểm di truyền phát triển từ 7.000.000.000 năm trước trong một số cộng đồng chăn nuôi bò sữa . như Bắc Âu, Đông Phi và Bắc Ấn Độ.

Bằng chứng và lý lịch

Sự tồn tại của lactase, khả năng uống sữa khi trưởng thành và ngược lại với việc không dung nạp đường sữa, là một đặc điểm nảy ở người do hậu quả trực tiếp của việc chúng ta thuần hóa các động vật có vú khác.

Lactose là carbohydrate chính (đường disacarit) trong sữa động vật, bao gồm cả con người, bò, cừu, lạc đà, ngựa và chó. Trên thực tiễn, nếu một sinh vật là động vật có vú, các “bà mẹ” cho sữa và sữa mẹ là nguồn năng lượng chính cho trẻ sơ sinh và vớ các động vật có vú rất trẻ.

Động vật có vú thường chẳng thể xử lý đường sữa ở dạng thông thường, và do đó, một loại enzyme tự nhiên có tên là lactase (hoặc lactase-phlorizin-hydrolase, gọi tắt là LPH) có trong vơ các động vật có vú khi sinh. Lactase phá vỡ carbohydrate lactose thành các phần có thể sử dụng (glucose và galactose).

Khi động vật có vú trưởng thành và chuyển đổi từ sữa mẹ sang các loại thức ăn khác (được cai sữa), việc sản xuất lactase sẽ giảm: rốt cuộc, hồ hết các động vật có vú trưởng thành đều không dung nạp được đường sữa.

Tuy nhiên, trong khoảng 35% dân số loài người, enzyme đó nối hoạt động vượt qua thời kỳ cai sữa: những người có enzyme hoạt động khi trưởng thành có thể tiêu thụ sữa động vật một cách an toàn: tính trạng tồn tại của men lactase (LP).

65% dân số khác của con người là không dung nạp đường sữa và không thể uống sữa mà không có tác dụng xấu: đường sữa không tiêu hóa nằm trong ruột non và gây ra mức độ nghiêm trọng khác nhau của đi tả, đau bụng, đầy hơi và đầy hơi kinh niên.

Lactose được loại bỏ khỏi sữa như thế nào

Có một vài cách để loại bỏ đường sữa ra khỏi sữa. Như bạn đoán, quy trình càng nhiều, phí sữa bán tại cửa hàng càng cao. Những phương pháp này bao gồm:

  • Thêm enzyme lactase vào sữa, về căn bản là tiêu hóa đường thành glucose và galactose. Sữa thành phẩm vẫn chứa enzyme, do đó nó được siêu lọc để khử hoạt tính của enzyme và kéo dài hạn dùng của sữa.
  • Truyền sữa qua đường sữa mẹ bị ràng buộc với chất mang. sử dụng quy trình này, sữa vẫn chứa đường glucose và galactose chứ không phải enzyme.
  • Phân đoạn màng và các kỹ thuật siêu lọc khác tách cơ học đường sữa ra khỏi sữa. Những phương pháp này loại bỏ hoàn toàn đường, giúp bảo quản tốt hơn hương vị “bình thường” của sữa.

Tại sao sữa không có lactose lại khác nhau?

Nếu được thêm vào sữa, sữa sẽ bị phân hủy thành glucose và galactose. Sữa không chứa nhiều đường hơn trước, nhưng nó có vị ngọt hơn rất nhiều vì các thụ thể vị giác của bạn cảm nhận glucose và galactose ngọt hơn so với đường sữa. Ngoài việc nếm ngọt hơn, sữa được siêu tinh chế có vị khác nhau vì nhiệt được thêm vào trong quá trình pha chế.

Cách làm sữa không đường lactose tại nhà

Sữa không đường lactose có giá cao hơn sữa thông thường vì các bước bổ sung cần thiết để tạo ra nó. Tuy nhiên, bạn có thể tùng tiệm đa số uổng nếu bạn tự biến sữa thông thường thành sữa không đường. Cách dễ nhất để làm điều này là thêm lactase vào sữa. Lactase dạng lỏng có sẵn tại nhiều cửa hàng hoặc từ các nhà bán buôn trực tuyến, chẳng hạn như Amazon.

Lượng đường sữa được loại bỏ khỏi sữa phụ thuộc vào lượng sữa bạn bổ sung và thời kì bạn cho enzyme phản ứng (thường là 24 giờ để hoạt động đầy đủ).

Nếu bạn ít mẫn cảm hơn với tác dụng của đường sữa, bạn không cần phải đợi lâu, hoặc bạn có thể hà tiện nhiều tiền hơn và thêm ít đường sữa hơn. Bên cạnh việc tùng tiệm tiền, một lợi thế để tự làm sữa không có đường sữa là bạn sẽ không có được hương vị “nấu chín” của sữa siêu tinh chế .

Bài viết đến đây là hết rồi. trông coi sẽ giúp ích cho các bạn phần nào trong tương lai. Lần sau nếu có ai hỏi về chủ đề này thì hãy nhớ về hóa học đằng sau chúng nhé!

Tham khảo Thoughtco , Vinmec Tuổi trẻ .

Thời Tiết

Bói Tình Yêu

Tỷ Giá

Bài đăng phổ biến